Tám tháng năm 2026, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 11,8 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ. Trong khi thị trường lớn nhất Hoa Kỳ vẫn còn nhiều bất ổn, các thị trường khác như: Trung Quốc, Nhật Bản, EU… tiếp tục mở ra dư địa tăng trưởng. Chặng cuối năm vì thế vừa là thách thức, vừa là cơ hội để ngành gỗ Việt Nam tăng tốc, hướng tới mục tiêu kim ngạch xuất khẩu cả năm đạt khoảng 19 tỷ USD. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế – Tài chính, ông Ngô Sỹ Hoài, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST) phân tích rõ hơn xung quanh vấn đề này.
Ngành gỗ Việt Nam đang chịu nhiều sức ép, đặc biệt từ thị trường Hoa Kỳ. Ảnh: Tư liệu.

Phóng viên: Thưa ông, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 11,8 tỷ USD sau 8 tháng, tăng 6% so với cùng kỳ. Trong bối cảnh thị trường thế giới nhiều biến động, ông đánh giá như thế nào về kết quả này và triển vọng xuất khẩu gỗ những tháng cuối năm?

Ông Ngô Sỹ Hoài: Trước hết, theo tôi cần nhìn nhận kết quả 8 tháng năm 2026 trong bối cảnh ngành gỗ Việt Nam đang chịu nhiều sức ép, đặc biệt từ thị trường Hoa Kỳ. Theo số liệu Cục Hải quan, tháng 8/2026, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 1,58 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 11,8 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ; riêng sản phẩm gỗ đạt 7,6 tỷ USD, chỉ tăng nhẹ 0,2% so với cùng kỳ.

Duy trì được mức tăng trưởng này trong điều kiện hiện nay là kết quả đáng ghi nhận, cho thấy năng lực sản xuất, chế biến và khả năng thích ứng của doanh nghiệp vẫn khá tốt. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là sự thay đổi bên trong con số tăng trưởng xuất khẩu.

Hoa Kỳ vẫn là thị trường lớn nhất, chiếm gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành gỗ, nhưng xuất khẩu sang thị trường này đang giảm. Trong khi đó, Trung Quốc, Nhật Bản, EU và một số thị trường mới có tín hiệu tích cực hơn. Điều này cho thấy, doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào một thị trường, dù đó là thị trường lớn và có sức mua cao như Hoa Kỳ.

Đa dạng hóa thị trường vì vậy trở thành yêu cầu thực tế để giảm rủi ro và tạo thêm dư địa tăng trưởng. Tuy nhiên, đa dạng hóa không có nghĩa là bỏ thị trường Hoa Kỳ. Ngược lại, cần giữ vững thị trường này bằng việc nâng cao tính minh bạch, kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu, chủ động ứng phó với phòng vệ thương mại và tuân thủ đầy đủ quy định của nước sở tại.

Một vấn đề khác là nhóm sản phẩm gỗ có giá trị gia tăng cao mới tăng 0,2% trong 8 tháng. Điều này cho thấy, ngành gỗ cần nhìn nhận lại những lợi thế vốn có. Khi các tiêu chuẩn về môi trường, nguồn gốc, lao động và phát triển bền vững ngày càng cao, lợi thế về gia công, chi phí cạnh tranh và khả năng đáp ứng đơn hàng lớn không còn đủ để duy trì sức cạnh tranh.

Muốn tăng trưởng xuất khẩu bền vững, ngành gỗ Việt Nam cần phải nâng chất lượng tăng trưởng, đầu tư nhiều hơn vào thiết kế, sản phẩm có giá trị gia tăng cao, thương hiệu và công nghệ. Đây cũng là giải pháp để vừa tăng kim ngạch xuất khẩu mà không nhất thiết phải phụ thuộc hoàn toàn vào tăng sản lượng.

Phóng viên: Với tổng giá trị xuất khẩu đạt 11,8 tỷ USD sau 8 tháng, để đạt mục tiêu 19 tỷ USD, bốn tháng cuối năm ngành gỗ phải xuất khẩu thêm khoảng 7,2 tỷ USD, tương đương bình quân 1,8 tỷ USD mỗi tháng. Đây là mức khá cao so với bình quân 8 tháng qua. Theo ông, khả năng hoàn thành mục tiêu 19 tỷ USD như dự kiến được nhìn nhận như thế nào?

Ông Ngô Sỹ Hoài: Theo tôi, cần nhìn nhận mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 19 tỷ USD cả năm một cách thực tế hơn. Với tổng giá trị xuất khẩu đạt 11,8 tỷ USD sau 8 tháng, để đạt 19 tỷ USD, bốn tháng cuối năm phải xuất khẩu thêm khoảng 7,2 tỷ USD, tức bình quân đạt khoảng 1,8 tỷ USD/tháng. Đây là mức khá cao so với bình quân 8 tháng năm 2026.

Ông Ngô Sỹ Hoài, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký VIFOREST

Vì vậy, trong bối cảnh thị trường Hoa Kỳ vẫn có những diễn biến bất lợi và áp lực cạnh tranh gia tăng, theo tôi, mục tiêu 19 tỷ USD sẽ là thách thức không nhỏ đối với ngành gỗ trong những tháng cuối năm. Kịch bản thực tế hơn hiện nay có thể đạt khoảng 18-18,5 tỷ USD, trừ khi thị trường Hoa Kỳ không tiếp tục diễn biến bất lợi.

Tất nhiên, cơ hội là vẫn còn đối với ngành gỗ. Nhiều doanh nghiệp đã có đơn hàng duy trì đến cuối năm, tạo nền tảng để giữ nhịp sản xuất và xuất khẩu. Bên cạnh đó, Trung Quốc, Nhật Bản, EU và một số thị trường mới đang có tín hiệu tích cực. Nếu khai thác tốt hơn những thị trường này, sự sụt giảm tại Hoa Kỳ có thể được bù đắp một phần.

Tôi đặc biệt lưu ý yêu cầu đa dạng hóa thị trường. Nhật Bản, EU, Canada, Australia, Trung Đông và một số thị trường còn dư địa cần được tiếp cận chủ động hơn. Không thể tiếp tục để một thị trường chi phối quá lớn đến kết quả chung của ngành gỗ.

Cùng với thị trường, cơ hội còn đến từ việc nâng giá trị sản phẩm. Thị trường quốc tế đang chuyển dần từ cạnh tranh đơn thuần về giá sang cạnh tranh về chất lượng, thiết kế, tính bền vững và khả năng truy xuất. Đây là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam chuyển từ gia công sang tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Để hướng tới kịch bản 18-18,5 tỷ USD, ngành gỗ cần đồng thời giữ thị trường chủ lực, mở rộng thị trường mới, tận dụng đơn hàng đang có và tháo gỡ những điểm nghẽn làm tăng chi phí của doanh nghiệp.

Chính sách hỗ trợ cũng cần đi nhanh hơn với nhu cầu thực tế. Tín dụng, hoàn thuế VAT, logistics, thủ tục kiểm tra chuyên ngành và các vấn đề về thuế đối với nguyên liệu đầu vào cần được xử lý kịp thời. Khi chi phí giảm và dòng tiền được cải thiện, doanh nghiệp sẽ có thêm khả năng nhận đơn hàng, duy trì sản xuất và cạnh tranh quốc tế.

Một vấn đề khác là nguồn nguyên liệu đầu vào cũng cần được quan tâm. Tám tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2,46 tỷ USD, tăng 16,5% so với cùng kỳ, phản ánh nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất vẫn lớn. Tuy nhiên, cùng với bảo đảm nguồn cung, doanh nghiệp phải kiểm soát chặt nguồn gốc và tính hợp pháp của nguyên liệu.

Phóng viên: Nếu kịch bản kim ngạch xuất khẩu đạt từ 18-18,5 tỷ USD là thực tế hơn, theo ông, bốn tháng cuối năm ngành gỗ cần tập trung vào những giải pháp nào để tận dụng tốt nhất dư địa thị trường và tiến gần mức xuất khẩu này?

Ông Ngô Sỹ Hoài: Theo tôi, trước hết phải giữ vững thị trường Hoa Kỳ. Đây vẫn là thị trường lớn nhất và có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả xuất khẩu của ngành gỗ. Cơ quan quản lý, Hiệp hội và doanh nghiệp cần chủ động hơn trong đối thoại, cung cấp thông tin, xử lý các vấn đề liên quan đến thuế quan, phòng vệ thương mại và nguồn gốc gỗ.

Doanh nghiệp cũng phải tuyệt đối tránh gian lận xuất xứ hoặc vi phạm quy định thương mại. Trong bối cảnh các thị trường lớn tăng cường kiểm soát, một vụ việc riêng lẻ cũng có thể ảnh hưởng rộng hơn đến uy tín của ngành gỗ.

Thứ hai là tăng tốc đa dạng hóa thị trường. Đây không còn là giải pháp mang tính dài hạn mà là việc phải làm ngay. Nhật Bản, EU, Trung Quốc, Canada, Australia và Trung Đông đều có dư địa nhất định. Doanh nghiệp cần tăng cường xúc tiến thương mại, tìm kiếm đối tác, xây dựng mạng lưới phân phối và phát triển sản phẩm phù hợp từng thị trường.

Thứ ba là giải quyết bài toán chi phí. Trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, doanh nghiệp không thể chỉ tăng doanh thu mà phải giữ được hiệu quả sản xuất. Vì vậy, những vướng mắc về tín dụng, hoàn thuế, logistics, thủ tục hành chính và nguyên liệu cần được tháo gỡ nhanh.

Thứ tư là nâng chất lượng nguồn nguyên liệu. Muốn giữ được thị trường lâu dài, ngành gỗ Việt Nam phải chứng minh được tính hợp pháp và khả năng truy xuất. Nguồn nguyên liệu có chứng chỉ, có dữ liệu và truy xuất được sẽ ngày càng trở thành điều kiện cạnh tranh chứ không chỉ là yêu cầu kỹ thuật.

Cuối cùng là thay đổi phương thức cạnh tranh. Ngành gỗ Việt Nam cần chuyển mạnh từ cạnh tranh bằng giá và gia công sang cạnh tranh bằng thiết kế, chất lượng, thương hiệu, vật liệu hợp pháp và phát triển bền vững.

Tôi cho rằng, nếu bốn tháng cuối năm cần triển khai đồng bộ những giải pháp này, ngành gỗ vẫn có cơ sở để tăng tốc và hướng tới kịch bản kim ngạch xuất khẩu đạt từ 18-18,5 tỷ USD. Điều quan trọng là không nên nhìn mục tiêu kim ngạch chỉ dưới góc độ một con số. Đằng sau kết quả xuất khẩu phải là năng lực cạnh tranh thực chất của doanh nghiệp, khả năng giữ thị trường, khả năng tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao và một hệ thống nguyên liệu minh bạch, hợp pháp.

Nếu biến được sức ép thành động lực đổi mới, sự dịch chuyển đơn hàng thành cơ hội mở rộng thị trường và những yêu cầu ngày càng cao của thị trường nhập khẩu thành động lực nâng chuẩn sản xuất, ngành gỗ Việt Nam có thể tạo được một chặng nước rút tích cực trong những tháng cuối năm.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo